Kể cả bây giờ, ở tận trong giấc mơ thầm kín, má cũng dõi theo từng trang bản thảo của con, để rồi bà cất tiếng rầy, “viết ẩu vầy hỏi sao không ai đọc mầy, Tài” hoặc “sao viết cái kết xạo quá xá vậy Tài”. Lần nào cuối câu rầy má cũng đệm tên con. Vần “ai” trong chữ Tài vang vọng ong ong như muôn ngàn tầng sóng âm, đánh thức giấc ngủ quên trên trang truyện sửa mãi vẫn chưa xong. Những con chữ gạch chân, khoanh tròn, đánh chéo; những mũi tên xanh đỏ luồn qua lách lại trên trang giấy như dấu kim móc len. Minh chứng cho lời dạy của má và niềm tin của con “nhai kỹ no lâu, cày sâu tốt lúa”. Trong hoàn cảnh đó, đứa con thường tự nhủ, phải sống và viết ra sao để má yên lòng?
Hồi còn sống, mỗi khi thấy tôi mê say đọc sách, bà nội thường sẽ kể, “nếu không mê chữ nghĩa thì ba má mầy đâu có gặp nhau”. Đợi đứa cháu buông quyển truyện Tàu xuống hóng chuyện, bà sẽ kể tiếp câu chuyện mà tôi đã nằm lòng. Rằng, ba má tôi là bạn học chung ở trường Viết văn. Vào năm cuối khóa học thì má mang thai, nội ngoại giục hai đứa về cưới gấp.
Bữa đưa làm dâu, má chỉ mang theo hai chiếc rương, một chiếc rưỡi là sách, phần còn lại mới là áo quần. Nhưng bao quyển sách ấy, má vẫn chưa kịp đọc hết trong những ngày dưỡng thai thì anh tôi trôi tuột ra ngoài trong lần má té. Từ đó má đâm ra buồn rầu ủ rũ, nhìn gì cũng lom lom vô định; đêm về có khi mê sản gọi “con ơi con ơi”, rên khóc lạnh người. Bà nội sợ nhà có vong đeo, nên dắt mẹ đến tìm đến Cô Đồng ở xóm Rượu Thuốc nhờ soi căng giúp. Rùng mình lên xác, Cô Đồng phán rằng, bà phải ráng giữ được con dâu này, thì mới mong có thằng cháu đích tôn vừa ngoan lại vừa giỏi. Nói xong, cô dúi vào tay mẹ nắm bùa, dặn về ngâm rượu thoa hoặc uống, sẽ mau kiếm được đứa con trai.
Kể đến đó bà lại thôi, như một trớn xe thắng gấp, câu chuyện về má thường làm cho tôi hụt hẫng ở đoạn lặng im cuối cùng. Nên bao năm dẫu đã thuộc lòng câu chuyện, tôi vẫn thích thú lắng nghe khi bà nội kể lại, với niềm mong ước hiểu được đoạn kết ra sao?
Nhưng phải mất nhiều năm sau này tôi mới hiểu, kinh nghiệm sống của bà nội đầy như quyển bách khoa toàn thư, nhưng lại tin sai ngay cái chi tiết “vượn phu ích tử” của con dâu duy nhất. Má chẳng sinh được đứa con nào sau hơn chục năm về làm dâu. Trong chục năm đó, hai lần má xin con nuôi về để mong lấy đức đẻ con nối dõi. Tôi và thằng em được má cùng bà nội đem về từ một bệnh viện xa lắc nào đó, hay từ tay bà mụ vườn ở miệt hẻo lánh cách trở đò ngang. Bao năm chăm chút cho con nuôi chẳng khác gì con ruột, má mong lấy đức để đẻ được con nối dõi cho nhà chồng. Nhưng mãi đến khi tôi mười tuổi, má vẫn không sinh được đứa em nào.
Dạo đó ba buồn rười rượi, hay nhậu nhẹt liên miên. Cứ sáng sớm đi rảo quanh xóm thế nào cũng có mối. Không đám giỗ bạn của chị dâu ông cậu, thì cũng đầy tháng cháu nội nuôi của dượng rể. Hầu như ba li bì từ sáng đến chiều. Tối về đến nhà khi đã đi ngã nghiêng, ba chửi rao rảo từ cổng cho đến mùng. Lâu lâu lại quơ cây chỗi ngang qua má vì tội “chỉ mỗi đẻ mà cũng không xong”. Mười tuổi, đủ để ký ức tôi in lại rõ đôi mắt thâm quần của má trộn lẫn trong ký ức mùi rượu nực nồng từ ba mỗi đêm, khi ông đã rã rời, vào mùng ngủ say như chết. Và mười tuổi, cũng đủ để tôi nhớ mãi hình ảnh ba dẫn một người phụ nữ trẻ trung xinh đẹp về nhà. Đứng trước mâm cơm, ba nói, giọng lạnh và sắt như cái dao ngâm trong nước đá, cắm phập vào tim:
- Vợ của con đó má!
Quay sang phía hai anh em tôi, ba nói:
- Đây là má hai đứa đó!
Cái bầu lùm lùm nơi bụng đã xác định vị trí của người phụ nữ lạ mặt ở ngôi nhà này. Bà nội nhìn má, mắt đỏ hoe, rồi cả hai lặng lẽ dọn mâm cơm xuống bếp. Đêm đó ba bảo chúng tôi từ nay phải gọi người phụ nữ mới về nhà là má. Gục đầu và cơm, hột cơm cứng đanh như đá. Anh em tôi ngó má, ngó bà nội rồi ngó ba và người phụ nữ (mà sau này chúng tôi hay gọi là dì). Không ai nói gì với ai, chỉ có hai gương mặt cười và hai gương mặt đỏ hoe nơi khóe mắt. Đêm đó khi ba dắt dì lên xóm chơi, bà nội và má ngồi nơi bếp thủ thỉ với nhau rất lâu, lâu đến tận khuya, khi ba về nhà cuộc trò chuyện mới được ngưng, mà dư âm nó như còn đọng lại mãi trong ngôi nhà ngói đỏ rêu phong trăm tuổi...

Tranh của hoạ sĩ Quỳnh Thơm
Từ khi đó, bà nội thương má con chúng tôi hơn. Bà thường an ủi, “ba con bị bùa Chà, không bỏ dì ấy được, bỏ là cả nhà mình sẽ bị thư tóc rối ếm vào trong bụng mà chết”. Mái tóc quăng, mắt sâu hút, giọng trài trại của dì cùng khái niệm bùa Chà của nội từ ấy trở thành niềm an ủi cho sự mặc cảm của má con tôi, trong những đêm ngủ ở căn bếp sau nhà, cùng với tỏi đường mắm muối, mùi giấm hòa cùng mùi khói khẳn nồng.
Căn bếp và phòng ba cách nhau một chiếc vách mỏng. Đêm về thinh vắng, tiếng giường phòng ngoài cọt kẹt làm hai anh em không cách nào ngủ được. Có đêm tôi thấy má lườm lườm cây dao, giở mùng bước ra theo lối vào phòng ba. Tôi sợ, chạy theo ôm chân má mà không dám cất lên một tiếng nào, cắn môi đến mặn cả đầu lưỡi. Đứng im lườm lườm về phía trước rất lâu, má đỡ tôi dậy, dắt về mùng ôm cho ngủ, nước mắt bà thấm những cọng tóc xanh của con. Từ ấy bà không còn thủ cây dao ở đầu nằm nữa, thay vào đó là sự trằn trọc gần như suốt cả đêm, mặc cho những lúc mưa át tiếng giường cọt kẹt, hay lúc chỉ còn nghe mỗi tiếng gió lơ thơ ở ngoài phía sân nhà.
Mùa đó dì sanh được đứa em trai, má lại càng mất ngủ. Đêm nào cũng dán mắt lên trần bếp ám khói, má lăn qua lăn lại nhiều lần trong đêm làm anh em chúng tôi cũng không cách nào ngủ được. Có bữa nửa đêm thấy hai đứa con, mắt vẫn mở dán lên trần nhà, má hỏi sao hai đứa không ngủ? Trong lúc nghĩ suy mông lung, tôi lỡ lời, “con nhớ mùi rượu của ba không ngủ được”. Lúc đó mắt má mênh mông, như chở khẳm cả dòng sông, mà mãi đến sau này tôi mới biết, bà bắt đầu uống rượu từ câu nói ấy.
Hũ rượu của nhà kề bên bếp, lưới nhện giăng quanh năm đầy bởi ba đã bỏ nhậu từ dạo dì về nhà này. Chiều chiều sau khi cơm nước dọn dẹp xong, má hay chừa lại miếng xoài chua hoặc trái chuối chát. Đêm lặng lẽ và tĩnh mịch, trong cái ánh sáng yếu ớt của chiếc đèn cà na, tôi thường thấy má ngồi xếp bằng nhìn về phía cà ràng. Ba mái đầu ông bà Táo chụm lại nhau, hắt cái bóng thật xa muốn đến chạm chân của má. Chai 7 úp đựng rượu được rót từ từ vào một cái chun đất nung, má từ tốn nốc cạn rồi khà một hơi dài, nhâm nhi miếng mồi. Không ít lần ba lục cơm khuya, thấy mẹ ngồi bên mâm nhâm nhi, ông chẳng nói gì, chỉ chười nhếch mép. Vẫn lặng thinh, má cứ khề khà cho đến khi chai rượu thứ hai cạn đáy, và lúc ấy anh em tôi cũng đã chìm sâu vào giấc ngủ tự bao giờ. Sự vô ý của trẻ thơ đã không ghi lại chút ấn tượng nào về việc sau những lần nhậu đó, má có ngủ được hay không?
Bà nội dường như biết má tôi uống rượu mỗi đêm, nhưng chưa kịp khuyên can thì một khuya mưa gió, bà lặng lẽ ra đi không nói một lời nào. Sự vắng bóng của nội không chỉ khiến chúng tôi hụt mất một khoảng trời tình thương che chở, mà còn giúp ba dễ dàng hơn trong việc đẩy má con chúng tôi ra khỏi căn nhà. Nhiều lần kiếm cớ chửi mắng, có khi đánh đập má và anh em tôi bởi những lý do “không cần biết lý do”, má đều chịu đựng. Miễn sao gian bếp đủ chỗ cho ba má con qua nắng qua mưa và liếm láp ngày ba bữa lót lòng.
Sau đó ít lâu, ba cất cho má con chúng tôi cái chòi phía sau vườn, gần mả nội. Bọn tôi dọn ra đó ở. Cuộc sống dẫu chật vật nhưng ba má con sống bình yên, không tiếng chửi rủa hay đánh đập. Sáng sớm má dậy nấu cháo đem ra chợ bán, trưa về đi dỡ khoai, mót lúa đến tận chiều. Tối má nhận làm thuê, lột vỏ me hoặc chằm nón lá đến tận khuya. Cực nhọc vậy, má vẫn giữ thói quen uống rượu, nhưng khác với ba là không bao giờ la hét hay đánh đập bọn tôi. Điều đó làm cho mâm nhậu của má trong mắt chúng tôi êm đềm như mây gió trôi ngang nhà. Mặc dù lâu lâu đi thăm ruộng về ngang qua, ba nhìn mâm nhậu rồi tặc lưỡi, dì trố mắt ngó chúng tôi. Như không thấy ai, má vẫn lai rai, không mời khách và cũng không lấy gì ái ngại.
Mấy năm sau đó, ba bán hết đất đai, âm thầm dắt vợ con lên phố. May sao ông vẫn còn chút nghĩa tình mà chừa lại cho phần đất mồ mả ông bà kề bên cái nhà nhỏ đơn sơ của má con tôi. Ít tháng sau có tin ba bị bệnh nặng, người vợ mới dắt bầy con đi mất, ông bơ vơ nằm viện ở xứ người. Má tôi lặn lội lên phố, gói thêm mớ tiền dành dụm bấy lâu , trút hết vào thuốc men chữa trị cho ba. Nhưng khi tiền má vừa cạn, thì ba cũng lặng lẽ ra đi sau khi nói nên mấy lời xin lỗi má trong nước mắt. Đưa ba về nằm trên mảnh đất vườn nhà, má héo hắt ngồi nhậu với ngôi mộ đất cỏ vừa lên mơn mởn, bà thôi khóc nhưng tôi biết lòng bà đâu thể nào vá lại cho lành.
Những năm sau đó, má vẫn ghiền rượu. Bà quần quật trồng rẫy trên đất nhà, những khi rảnh rỗi, bà đi làm thuê quanh xóm. Gần suốt một đời má hiếm khi đi ra khỏi xóm, phần vì quần quật bao việc làm thuê, phần vì bà ngại với nỗi ghiền rượu của mình mỗi chiều.
Bây giờ má đã già, nhà vừa có cháu, vợ chồng thằng em tôi đi buôn bán ở chợ xa, bà thui thủi ở nhà giữ cháu, trồng một ít rau củ, ủ mấy khạp giấm ăn bỏ mối cho tiểu thương ở chợ, vậy mà quanh năm má đủ tiền để chiều chiều mua chút rượu lai rai. Từ nhỏ đến nay đã quen cảnh ấy, nên em tôi chẳng phiền muộn gì. Cho đến một ngày, má uống say ngủ quên, đứa cháu té xuống giường ngủ ngon ơ đến sáng mà bà vẫn không hay biết. Sáng ra đứa nhỏ bị muỗi cắn bấy bá, mấy hôm sau thì phát lên sốt xuất huyết phải điều trị cả tuần ở bệnh viện mới khỏi. Đưa con về nhà, hai em tôi mặt mày xu xị, má nhìn theo hỏi mấy câu nhưng vẫn không nghe thấy ai trả lời, suốt mấy hôm liền.
Chuyện không ngừng lại bấy nhiêu. Mấy tuần sau đó, con dâu phát hiện má chồng hay len lén đút vú cho cháu bú khi nó ngủ mê. Con dâu nghĩ rằng có thể vì vậy mà đứa nhỏ ghiền mùi vú nội, đầu đêm ngủ với ba mẹ khóc ngất không thôi. Sẽ không có vấn đề gì nếu má tôi không phản phất mùi rượu mỗi đêm, và em dâu tôi nghĩ rằng đứa nhỏ ngủ mê cũng có thể vì say lây mùi rượu của nội. Những ngày đó nhà có tiếng cãi vả giữa vợ chồng đứa em tôi, không thôi. Mâu thuẫn cứ lẫn khuất đâu đó trong nhà, bắt lửa từ mâm nhậu của má, kể cả khi sau này bà đã thay nước vào chai 7 úp bao năm đựng rượu.
Một bữa tôi về thăm nhà, mặc cho có tôi ở đó, thằng em sau trận cãi nhau với vợ, quay ngang má quát, “con cấm từ nay má không được nhậu nữa, nghe hông”. Lặng lẽ nhìn con, bà già gật đầu khe khẽ, ánh mắt cúi xuống như đứa trẻ có lỗi thẹn thùng. Nhưng là má, ngoài sự thẹn thùng đó, chắc là bà còn có nỗi khổ tâm nào khác dằn vặt ở trong lòng, nặng trĩu như những đám mây đen chẳng thể nào rơi mưa.
Sau lần đó, hai đứa em tôi ly dị, đứa con theo mẹ sống với ba mới ở xứ xa. Những ngày buồn bã, thằng em tôi trộm rượu của má uống giải sầu, dần dần đâm ra nghiện rượu. Nhìn thằng em mới một năm mà đã tàn tạ già hẳn, tôi khuyên, chú đừng nhậu nữa, ráng mà lo làm ăn. Thằng em tôi ngà ngà say, tóc tai bê bết quát, “vậy má nhậu sáng đêm, sao anh không khuyên má bỏ rượu dùm tui”. Giọng em tôi tức tưởi, giận dữ hằn lên nét mặt bằng những đường gân xanh xám xịt. Má ngồi sau bếp lắng nghe, tôi ngó thấy dáng má còng như muốn chạm đất. Từ đó bà hiếm khi uống rượu.
Biết vậy, lâu lâu về thăm má, tôi hay mua cho bà ít rượu Xóm Góa, dúi vào tay chút tiền từ những tháng lương. Đó là những ngày hiếm hoi hai má con ngồi lai rai sau bếp, kể chuyện đời xưa. Má nói, “rượu dạo này mắc lắm, nhậu nước đi cho lành”. Đứa em tôi không nhậu cùng, nó nhìn lom lom quay mặt đi chẳng nói lời nào, tắt điện. Má và tôi lặng im, nhậu với mồi là bóng tối tù mù và sự thinh lặng. Cảm giác thật khó chịu và đắng chát. Vậy mà má vẫn vui vẻ chẳng trách hờn, có lẽ bà đã quen với rượu và bóng tối, từ hồi chồng giẫm lên mình để bước sang ngang.
Mọi chuyện vẫn diễn ra lặng lẽ, má vẫn thèm rượu mỗi đêm trằn trọc dán mắt lên nóc nhà, không ngủ. Tình trạng mất ngủ ấy kéo dài suốt hơn ba tháng thì má phát hiện mình bị ung thư gan. Bà lặng lẽ tự điều trị bằng những bài thuốc thôn quê cây cỏ. Đến lúc bệnh trở nặng, tôi biết được, liền đưa bà lên phố trị, bác sĩ bảo rằng phải hóa trị lâu dài. Bà hỏi hóa trị tốn bao nhiêu? Chắc khoảng năm chục triệu. Nghe xong, má cương quyết về nhà, nhất định không chịu uống bất kỳ một viên thuốc nào, bà khóc, bà vẫy vùng bằng những sức lực còn lại của mình, bằng mọi cách.
Không còn lối nào khác, tôi đưa bà về, nhưng vẫn chạy chữa thuốc nam thuốc bắc. Lần nào uống thuốc má cũng hỏi, thuốc này giá bao nhiêu? Nói nhiều quá thì bà không uống, nói ít quá thì bà lại không tin. Nhìn những chén thuốc má uống đen ngòm đắng ngắt, em tôi bỗng sợ, nó bỏ rượu từ dạo đó. Không tẩm men vào mình, thằng em tôi trở lại với “người”. Nó quần quật làm thuê khắp xóm dưới làng trên, mong sao đủ tiền chạy chữa thuốc than cho má, để bà ở lại sống đời, đừng bỏ ra đi. Và có lẽ đó cũng là những ngày má sống vui vẻ nhất trong những năm tháng cuộc đời. Những buổi chiều ba má con ngồi trước hàng ba ngó ra sông, thấy khói lam bay, em tôi nói:
- Bây giờ con mới hiểu, vì sao sầu muộn người ta tìm đến rượu.
Câu nói làm tôi đoán rằng chắc sẽ có điều gì bất ngờ phía sau.
- Mà má nhậu cả đời vẫn không say xỉn, má đâu có nhậu rượu đâu.
Bí mật về bà già nhậu nước bấy lâu nay mới được em tôi khui ra, chứ nếu nó không nói chắc rằng cũng không ai biết.
Những ngày má bệnh, tôi xin nghỉ làm ở Hội Văn nghệ, về quê chăm má. Mỗi khi thấy con cặm cụi viết kiếm cơm, má lại hỏi: “Viết gì đó Tài, đưa má đọc coi”. Đến lúc má lên tiếng hỏi, tôi mới chực nhớ ra, má mình cũng từng là cô sinh viên trường Viết văn một thời nỗi danh lừng lẫy. Đưa bản thảo cho má với nỗi mong chờ đọc giả thân quen thì khen có khách quan không? Nhưng má không hề khen một tiếng nào, thay vào đó bà thở dài, lấy viết đỏ khoanh tròn gạch gạch trong bản thào rồi cằn nhằn, “cái thằng, viết ẩu”.
Đó là khoảng thời gian tôi vừa chăm má vừa dành thời gian viết cho xong bản thảo tập truyện ngắn của mình. Má hỏi, có định in bán hay không Tài? Tôi cười, truyện con in bán ai mua má? Bà xoa đầu tôi như năm xưa xoa an ủi đứa trẻ bị cha ruồng bỏ: “Viết cho thật có tâm, sửa cho thật kỹ càng thì ắt sẽ bán được, sống được”. Những ngày sau, dẫu sức khỏe má không được tốt nhưng bà vẫn đọc bản thảo của tôi và cằn nhằn không thôi. Kiến thức của người từng học trường viết văn, cùng kinh nghiệm cuộc đời và những ngày thức trắng đêm không biết làm gì ngoài uống rượu và đọc sách, đã giúp má có một vốn sống đủ để soi đường cho đứa con mới tập tễnh bước vào nghề.
Trang viết cuối cùng má sửa, cũng là trang cuối của bản thảo tập truyện Chim hạc bay về. Những trang giấy ấy vẫn còn in lại vết chân chén thuốc đông y của má, cùng các nét gạch yếu ớt và mỏng như hơi thở của bà. Để rồi trong một đêm mưa, má gọi tôi, “con à, má thèm nhậu quá, hai đứa lai rai với má nghen”. Lần đầu tiên bà rủ hai đứa con mình nhậu cùng. Lòng tôi có chút xao động, nhưng thằng em cương quyết “không”: “Má bệnh nặng mà nhậu gì, má ráng khỏe đi, rồi tụi con sẽ nhậu với má suốt đời”. Bà cười rất mãn nguyện, ôm gối quay vào trong vách ngủ ngon lành như đứa trẻ. Và từ đó bà lặng lẽ ra đi, không lời dặn dò hay oán trách, cũng không di nguyện nào thổ lộ... Suốt những năm sau này tôi vẫn thường tự trách mình, sống hời hợt và viết lách dễ dãi, ất ơ, để rồi gần hết tuổi trẻ vẫn không đủ tiền chữ bệnh cho má được.
Tôi ở lại nhà thêm một tuần sau ngày má mất, rồi lặng lẽ lên đường trở lại cơ quan. Mấy tháng sau, em tôi gọi điện hớt hải cho hay, “má mất để lại cho anh em mình cả cây vàng, bà để trong cái rổ mồi”. Bần thần, không biết tâm trạng mình buồn hay vui, lòng tôi tự hỏi sao má dành dụm để lại làm chi, mà không lấy nó ra chữa bệnh cho mình. Trời ơi, giá như trị bệnh, má sẽ còn sống, bà sẽ còn giúp tôi sửa những trang bản thảo, để tôi có thể trưởng thành và vững vàng hơn trên con đường chữ nghĩa của mình. Trong máy, em tôi tỏ rõ sự vui mừng: “Hên quá anh ơi, có mớ vàng này em sẽ làm vốn gầy dựng lại cuộc đời”.
Ngồi trước bàn thờ má, em trai chia phần cho tôi bằng những thứ bày ra trước mặt. Mấy chiếc khâu vàng xâu lại bằng sợi dây vải sậm màu mưa nắng gian nan, cùng sấp bản thảo của tôi. Em nói:
- Vàng thì anh cất làm vốn. Còn xấp giấy này em không biết anh viết cái gì mà má gạch bỏ và chú dẫn tùm lum. Anh xài thì lấy về, không thì cho em để gói bánh mì bán.
Trước bút tích của má in hằn lên những trang bản thảo đứa con. Tôi chợt thấy như lời bà dặn vang vọng ở đâu đây, văn chương cũng giống như rượu vậy, cần có nguyên liệu, độ lắng đọng của thời gian ủ cho lên men cùng bàn tay lành nghề của người chưng cất, và nhớ không pha lẫn tạp chất, thì mới mong được mẻ rượu ngon, chất lượng. Có rượu ngon, sợ gì không có người ghiền.
Tổng hợp nhiều nguồn
Lâu lâu má vẫn về thăm. Có lúc bà ngồi trước đầu bàn viết, vuốt mái tóc vừa len lén vài sợi bạc của đứa con trai rồi cằn nhằn, viết khác người ta, và sống cho giống người...
Những ngày gần đây, Trường Giang liên tục trở thành từ khóa nóng trên các diễn đàn mạng xã hội khi nhiều đoạn video cũ của anh được chia sẻ trở lại. Giữa những tranh luận...
Bên trong những hầm trú ẩn khổng lồ được đào sâu dưới núi Thụy Sĩ để các tỷ phú cất giấu siêu xe như Ferrari, vàng hay rượu vang hảo hạng khiến nhiều người trầm trồ.
Khả Ngân và Nhan Phúc Vinh có khoảng 3 năm gắn bó trước khi công khai chuyện tình cảm bằng màn cầu hôn. Nữ diễn viên vốn kín tiếng về đời tư, theo đuổi phong cách nữ tính...
Trước làn sóng chỉ trích trên mạng xã hội, nghệ sĩ Trường Giang đăng bài viết xin lỗi.
HÀN QUỐC - Nữ ca sĩ Kwon Eun Bi phải hủy sự kiện gặp gỡ người hâm mộ sau khi gặp tai nạn giao thông trên đường đến sự kiện.
Bên cạnh những hoạt động "chữa lành" như săn mây, check-in vườn hoa, quán cà phê..., Đà Lạt hiện có thêm nhiều lựa chọn dành cho du khách yêu thích cảm giác mạnh và trải ...
Danh ca Celine Dion hai lần phải tạm dừng để lau nước mắt vì xúc động trong show diễn tối 12/9 tại Plenitude Arena, Paris (Pháp).
Chaien đang ép buộc Xêkô phải tìm cách giúp cậu ta được lên tivi biểu diễn ca hát. Xêkô sợ hãi, cầu cứu Doremon và Nobita nhưng bị từ chối vì yêu cầu quá vô lý.